Con đường Tỉnh giác phát sinh Tuệ

SƠ LƯỢC CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN

1. Tóm lược một số cái cơ bản

– Sắc-Danh: Sắc (vật chất-vật lý); Danh (Tâm – Ý – Thức)

– Vô Thường: Luôn biến động, biến đổi, thay đổi theo tiến trình Sinh-Thành-Trụ-Hoại

– Vô Ngã: Không chấp nhận có một Thượng đế hay Đấng Sáng tạo làm chủ đời sống hữu hình và vô hình. Không chấp nhận mỗi chúng sinh có một linh hồn vĩnh cửu và bất biến. Không chấp nhận có một cái ngã thể (cái tôi) cá biệt trong thế giới trùng điệp duyên khởi.

– Nghiệp: Là hành động, việc làm; tác ý trong tư tưởng, lời nói, việc làm. Hành động có tác ý thiện hay bất thiện đều tạo Nghiệp.

– Nhân-Duyên-Quả: Nhân là nguyên nhân; Duyên là điều kiện, sự hỗ trợ. Quả là kết quả, hậu quả.

– Luân hồi: Sự Tái sinh, đầu thai.

– Tam Giới gồm 3 cõi: Dục giới (trong đó có cõi Người, Súc Sinh), Sắc giới, Vô Sắc giới

– Giới-Định-Tuệ: Giới (Đạo Đức); Định (Tập trung); Tuệ (Trí Tuệ)

– Tham (Tham lam); Sân (Sân hận, nóng giận); Si (Si mê, bám víu, vô minh); Mạn (ngạo mạn, bản ngã, cái tôi); Nghi (Nghi ngờ); Kiến (Chấp thủ, bảo thủ).

– Tính “Không”: không phải là không có gì, mà nó tồn tại xung quanh chúng ta hàng ngày, chả qua nó vô hình chúng ta không nhìn thấy đó là: Trường Năng lượng, Trường Thông tin (Tàng thức); Sự Thăng Giáng Lượng tử. Khi hội đủ nhân duyên thì nó sẽ hiện hữu.

– Pháp: Là những sự vật, hiện tượng có trạng thái riêng biệt, có tướng trạng, hình dạng khác nhau để nhận diện và phân biệt.

– Tục Đế: Chân lý tương đối, sự thật mang tính quy ước.

– Chân Đế: Chân lý tuyệt đối, muôn đời nó vẫn thế.

– 12 Nhân duyên: Vô Minh, Hành, Thức, Danh-Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão Tử.

– Bốn Quả vị chứng đắc: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán.

– Niết Bàn: Không phải là cõi mà chỉ là một trạng thái.

2. Tứ Diệu Đế (Bốn Chân Lý)

– Khổ Đế: Khổ luôn luôn hiện hữu.

– Tập Đế: Nguyên nhân của Khổ

– Diệt Đế: Sự chấm dứt Khổ

– Đạo Đế: Con đường đưa đến sự chấm dứt Khổ

3. Bát Chánh Đạo (Tám Con đường chấm dứt Khổ)

– Chánh Kiến: Quan điểm hay cái nhìn đúng chân lý, sự thật

– Chánh Tư Duy: Tư duy chân chính đưa đến hành động thiện, an lạc

– Chánh Ngữ: Lời nói chân thật, không gian dối

– Chánh Nghiệp: Hành động đúng đắn, hướng đến đạo đức

– Chánh Mạng: Đời sống, việc làm chân chính

– Chánh Tinh Tấn: Sự cố gắng, nỗ lực, tăng trưởng Thiện

– Chánh Niệm: Quan sát, chú tâm vào Thân, Thọ, Tâm, Pháp để tỉnh thức

Chánh Định: Thiền Định xa lìa tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến

4. Các Con đường bổ trợ

Tứ Niệm Xứ: Chánh niệm (Thân, Thọ, Tâm, Pháp)

– Tứ Chánh Cần: Ngăn ác; Diệt ác; Sinh thiện; Tăng thiện

– Tứ Như Ý Túc: Dục; Tấn; Tâm; Tuệ.

– Tứ Vô Lượng Tâm: Thiền (Từ, Bi, Hỷ, Xả)

– Ngũ Căn: Tín căn; Tấn căn; Niệm căn; Định căn; Tuệ căn

– Ngũ Lực: Tín lực; Tấn lực; Niệm lực; Định lực; Tuệ lực

– Thất Giác Chi: Niệm; Trạch Pháp; Tấn; Phỉ; Khinh An; Định; Xả

– Trì Giới: Giữ đúng 5 Giới.

– Niệm-Quán-Thiền: Luôn Chánh niệm, Quán chiếu và thực hành Thiền Định (Thiền Minh Sát)

5. Lục Căn – Lục Trần – Lục Thức (12 Xứ, 18 Giới)

– Lục Căn: Mắt, Tai, Mũi, Thân, Ý

– Lục Trần: Sắc (Hình thể); Thanh (Âm thanh); Hương (Khí); Vị (Mùi vị); Xúc (Tiếp xúc), Pháp (Đối tượng của Ý thức)

– Lục Thức: Nhãn thức; Nhĩ thức; Tỉ thức; Thiệt thức; Thân thức; Ý thức.

– Lục Căn tiếp xúc với Lục Trần = 12 Xứ

– Lục Căn + Lục Trần + Lục Thức = 18 Giới

– Ngoài Lục Thức còn có Mạt-na Thức (Thức thứ 7) và A-Lại-Da Thức hay Tàng Thức (Thức thứ 8)

6. Bốn Lậu Hoặc

– Khái niệm: “Lậu” là rỉ ra, là tươm rỉ bợn nhơ, dơ uế phiền não.  “Hoặc” là mê lẩn, mê lú. Gồm 4 lậu hoặc: Dục Lậu, Hữu Lậu, Kiến Lậu, Vô Minh Lậu.

– Dục Lậu: Sự tham ái, dục vọng bên trong tất cả những ai còn phàm nhân. Nó là loại keo có năng lực dính hút, là cái gì cực kỳ lôi cuốn, làm say đắm tất cả chúng sinh

– Hữu Lậu: Chỉ cho sự tham ái, đeo dính, muốn có mặt, muốn tồn tại trong các cảnh giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới)

– Kiến Lậu: Do sự luyến ái ý tưởng, tư tưởng; các quan điểm, lý thuyết, triết lý cục bộ, giới hạn, lầm lạc… lại còn chấp thủ vào chúng nữa nên đưa đến đối kháng, tranh chấp, bảo vệ. Gồm 62 tà kiến như Thường kiến, Đoạn kiến, Ngã kiến, Nghi kiến ….

– Vô Minh Lậu: Đấy là không biết gì về khổ, về nguyên nhân khổ, sự diệt khổ, về sự vô thường, vô ngã. Không biết gì về tiến trình sinh diệt của ngũ uẩn, của 12 duyên khởi; của vạn vật; không biết rõ, thấy rõ “cái ta” là không có thật, chỉ do duyên hợp. Nói dễ hiểu hơn chút nữa, vô minh là trạng thái không sáng suốt, không tỉnh thức, không tỉnh giác, thiếu hiểu biết… Do vô minh che mờ nên tạo ra những hành động lầm lạc, sai trái, gieo nghiệp rồi trầm luân trong vòng Luân hồi.

7. Ngũ Uẩn

Ngũ Uẩn tạo thành con người gồm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức

a) Sắc Uẩn: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân

b) Danh gồm có:

– Thọ Uẩn: Cảm giác Vui (Lạc), Buồn (Khổ), Không vui – không buồn.

– Tưởng Uẩn: Tưởng tượng, Tri giác, chấp vào bản ngã (cái tôi); nhớ quá khứ, nghĩ hiện tại, lo lắng tương lai.

– Hành Uẩn: Sự Tác ý, hành động, động cơ trong Tư tưởng (Ý), Lời nói (Khẩu), Hành động (Thân).

– Thức Uẩn: Làm nhiệm vụ nhận biết đối tượng (Pháp). Gồm 8 thức: Nhãn thức (Mắt); Nhĩ thức (Tai); Tỷ thức (Mũi); Thiệt Thức (Lưỡi); Thân thức (Thân thể); Ý thức (phân biệt tốt, xấu); Mạt-na Thức (Thức trung gian); A-Lại-da Thức hay Tàng thức (Kho tàng chứa các chủng tử của Nghiệp).

8. Ý nghĩa Tính “Không” và Trung đạo

Để hiểu được ý nghĩa của Tinh “Không” trong sự hiện hữu của các pháp, bạn cần phải quán chiếu các tính chất cơ bản của chúng, được tóm tắt trong bốn thuật ngữ như sau: nhân  duyên, giả danh, không và trung đạo.

– Nhân duyên: Một pháp (thuộc về tâm lý hay vật lý) được hình thành luôn bao hàm nhiều nhân duyên; hay nói khác đi, do các nhân duyên kết hợp với nhau mà một pháp được hình thành. Do vậy, khi các nhân duyên tan rã, thì pháp ấy cũng hoại diệt theo.

– Giả danh: Một pháp (thuộc về tâm lý hay vật lý) được đặt tên tùy theo các nhân duyên, điều kiện. Khi các nhân duyên thay đổi, tên gọi cũng thay đổi. Ví dụ: cây, gỗ, cái bàn, củi, lửa, tro, bụi.

– Không: Một pháp (thuộc về tâm lý hay vật lý) dầu được định danh theo chức năng của nó, nhưng bản chất của nó khi được phân tích đến cùng đều trở thành Không, tức không có tự tính cá biệt độc lập nào; khi nhân duyên đủ thì sẽ sinh thành và hiện hữu, như hydro cộng với oxy để tạo thành nước.

– Trung đạo: Giá trị của một pháp (thuộc về tâm lý hay vật lý) cần được nhìn nhận trong chuỗi tương quan của các nhân duyên và điều kiện mang tính tương đối, nhằm tránh xa các cố chấp cực đoan về có-không, sinh-diệt, giống-khác, thường kiến hay đoạn kiến… Do vậy, Trung đạo là con đường vượt lên trên mọi chấp thủ và dẫn đến Niết-bàn.

Sơ đồ xem bản đầy đủ rõ hơn tại đây

CON ĐƯỜNG TỈNH GIÁC PHÁT SINH TUỆ

1. Xác định rõ mục đích

Học Tứ Diệu Đế thấy được khổ, thấy được nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ, con đường dứt khổ. Bạn phải thấy và hiểu được Sinh ra đã là khổ, Sống cũng là khổ, Chết đi là khổ. Mọi sự biến đổi, hoại diệt (Vô Thường) là Khổ. Khổ về vật chất, khổ về tinh thần, giàu cũng khổ, nghèo cũng khổ, không đạt được mong muốn cũng là Khổ, cứ có phiền não là Khổ…..

Từ cái thấy và hiểu được rằng như thế, bạn mới nhận thức được Sống không phải là để hưởng thụ, để cho có, cho xong mà phải xác định rõ mục đích Sống để làm gì, định hướng làm sao để thoát Khổ. Rồi từ cái mục đích, sự định hướng đó, xác định con đường đi. Con đường đi thì có rất nhiều (nhưng chỉ là tương đối) và mất nhiều thời gian để hoàn thành; bạn cứ đi lòng vòng, quanh quẩn rồi cuối cùng bạn cũng sẽ phải quay về với con đường của 4 chân lý (Tuyệt đối) mà thôi.

2. Đọc, hiểu các vấn đề cơ bản

Khi đã xác định rõ con đường, mục đích, hướng đi, bạn cần phải hiểu các vấn đề giáo lý căn bản như: Đạo Phật là gì? Mục đích của Đạo Phật là gì? Đạo Phật là mê tín, hay là khoa học? Nhân sinh quan của Phật giáo; Vô Thường, Vô Ngã, Luân Hồi, Danh (Tâm-Ý-Thức), Sắc (vật chất), Nghiệp, Nhân-Duyên-Quả, Ngũ Uẩn, 12 nhân duyên, 18 Giới, 4 Lậu hoặc….

3. Vận dụng và thực hành vào hàng ngày

Khi đã đọc và hiểu rõ bản chất của Đạo Phật (giác ngộ, giải thoát) và bản chất của vạn vật (không có gì khác ngoài “Không”, thực tướng là vô thường, khổ, vô ngã) thì bạn đọc tiếp con đường thoát Khổ: Bát Chánh Đạo, 37 phẩm trợ Đạo (Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Tứ Vô Lượng Tâm, Thất Giác Chi, Ngũ Căn, Ngũ Lực…)

Nếu muốn giải thoát khỏi suy nghĩ muộn phiền, đau khổ để đạt thanh thản, an lạc thì bạn phải tu tập theo một quá trình, quá trình tu tập, sống này phải tuân thủ Giữ Giới (5 giới). Bước đầu quán Vô Thường-Khổ-Vô Ngã, quán 12 nhân duyên, 18 giới và các phẩm trợ đạo để thấy rõ ràng thực tướng của vũ trụ nhân sinh là Vô Thường, Khổ, Vô Ngã.

Sau đó bạn cần quán chiếu nguyên nhân sinh khởi gây chướng ngại cho bạn từ đâu. Cần quán chiếu cả 2 yếu tố, ngoại thân (bên ngoài) và nội thân (tâm) tác động vào. Rồi ngăn các chướng ngại chưa sinh (diệt trừ mọi sự nguy hại có thể xảy ra) và diệt trừ các chướng ngại đã sinh.

Bên cạnh đó áp dụng các phẩm trợ Đạo và thực hành bằng cách Niệm, Quán chiếu, Thiền Định (Thiền Minh Sát). Đây là hành trình đưa bạn đến “chánh niệm-tỉnh giác”. Bạn đều phải hoàn toàn ý thức và tỉnh táo về hành vi mà bạn đang làm mỗi lúc. Nghĩa là, bạn phải sống trong phút hiện tại, trong hành động hiện tại. Tránh việc nhớ quá khứ, lo lắng tương lai.

Bạn phải ý thức rằng, những gì mình tu tập hôm nay có ảnh hưởng rất lớn đến sinh mệnh của chính mình cho cả đời này và đời sau. Nếu không ý thức được mối tương quan Nhân Quả, Nghiệp Báo này, bạn sẽ tu tập một cách hờ hững và chí nguyện sẽ không vững bền.

Khi có chánh niệm tỉnh giác thì cũng là đã chế ngự được Lục Căn, phát huy được Ngũ Căn, Ngũ Lực. Diệt hết tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến là hết vọng tưởng và được hân hoan, được hân hoan nên hỷ sinh. Người có hỷ, nên thân được khinh an. Với thân khinh an, người ấy có cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Đến đây là bạn đã tìm thấy những gì bạn đang cần tìm.

4. Tuổi trẻ nên tu tập như thế nào

– Xây dựng lý tưởng sống, xác định rõ mục đích sống

– Xây dựng góc nhìn và niềm tin đúng đắn, chân chính (chánh kiến, chánh tư duy)

– Khi có niềm tin và cái nhìn chân chính bạn cần phải có một điểm tựa cho cuộc sống. Điểm tựa đó là chân lý tuyệt đối (Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo). Bạn lấy đó làm nền tảng cho sự thực hành của bạn

– Do cuộc sống vốn thay đổi, nhiều khó khăn do đó bạn cần phải nỗ lực, kiên trì, ứng dụng tinh thần Trung đạo và 2 chân lý (Tục đế và Chân đế). Đọc và hiểu từng kiến thức giáo lý cơ bản trong Phật giáo.

– Sau cùng, vì cuộc sống có nhiều thứ bị chi phối bởi gia đình, công việc, xã hội, do vậy bước đầu của sự tu tập là siêng năng làm việc thiện, tránh xa điều xấu. Khi nào đủ nhân duyên, điều kiện thì bắt đầu đi sâu tìm hiểu và thực hành Thiền Định để giữ tâm quân bình, tịnh tĩnh, an nhiên, tự tại.

Tổng hợp Nhiếp Danh Phái

Bài liên quan

Nhận thức, hiểu biết Sai Sự thật

Khung phân loại NDP – Phân loại Tri thức theo lĩnh vực

CON ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO – Vượt trên cả Nhất Nguyên và Nhị Nguyên