CON ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO – Vượt trên cả Nhất Nguyên và Nhị Nguyên

Bài trước: Con đường tỉnh giác phát sinh Tuệ

I. TRUNG ĐẠO

1. Khái niệm

Trung Đạo nghĩa là “Không một mà cũng chẳng hai, đó là con đường chính giữa”. Con đường chính giữa là con đường phủ nhận những loại cực đoan bên này hay bên kia, đúng hay sai, tốt hay xấu, thường kiến hay đoạn kiến.

Sở dĩ mà có sự sai-đúng. Vì ta chấp vào chỗ thấy biết của mình làm chủ; nhưng thật sự ra sự thấy biết của mình căn cứ nơi cái gì để cho là đúng. Tất cả cũng chỉ là sự chấp ngã (chấp vào cái tôi của mình) và chấp tướng (chấp vào sự hiện hữu của mọi thứ vốn cho là thật có)

Cái tuyệt đối ở đây có nghĩa là cái gì đến cứ để cho nó đến. Cái gì đi hãy để cho nó đi. Hãy đừng tiếc thương, ái luyến. Cũng đừng sầu khổ, vấn vương. Điều quan trọng là hãy biết chấp nhận sự thật của cuộc đời. Mà sự thật của cuộc đời là gì? – Là cái không to tướng, là cái không do mọi sự giả hợp mà thành. Sở dĩ ta khổ đau bởi vì ta thấy “CÓ”.

Bây giờ ta hiểu được lẽ Trung đạo rồi thì (có hay không) nó cũng chẳng phải thực tướng nên ta không bị chi phối bởi đối tượng, mà ta phải làm chủ lại đối tượng.

2. Ví dụ

Khi bóng trăng chiếu trên mặt nước thì ta bảo rằng có trăng, có nước và khi trăng di chuyển đi nơi khác, mặt nước vẫn còn đó; nhưng ta lại chẳng thấy trăng đâu, rồi ta lại nói không. Đây chỉ là một hiện tượng xoay của mặt trời, mặt trăng và quả đất. Còn ta, ta vẫn bị cái đến-đi, nó chi phối trong từng giờ từng phút như vậy.

II. KIẾN

Kiến là quan niệm, kiến giải, sự nhìn nhận. Có tổng cộng 62 tà kiến. Dù có quan niệm, nhìn nhận như thế nào thì cũng sẽ rơi vào trạng thái cực đoạn (có-không; đúng-sai). Dưới đây là những quan niệm sai lầm (không phải con đường Trung Đạo) mà người thường hay mắc phải:

1. Nhị kiến

– Hữu kiến: cho tất cả là có thật;

– Vô kiến: tà kiến thiên về không, hư vô.

2. Tam kiến

– Cho rằng sự việc xảy ra không có nguyên nhân;

– Cho rằng đời sống tuyệt đối vô ích;

– Vô kiến, tin tưởng vào một quan điểm hư vô.

3. Tứ kiến

– Nhất, nghĩa là chỉ có một, tất cả đều như nhau;

– Dị, tất cả đều khác nhau, không cái nào giống cái nào;

– Thường kiến, cho rằng tất cả đều thường còn, vĩnh viễn;

– Đoạn kiến, không thường còn.

4. Thất kiến

– Ngã kiến, tin có một tự Ngã (cái tôi).

– Phủ nhận quy luật nhân quả (Nghiệp)

– Thường kiến: tin nơi sự trường tồn bất biến

– Đoạn kiến, tin vào sự huỷ diệt;

– Giới cấm thủ kiến, bám giữ nơi Giới luật

– Quả đạo kiến, nhận lầm một ác nghiệp là một thiện nghiệp;

– Nghi kiến, nghi ngờ về các chân lý

III. TỔNG QUAN TRUNG ĐẠO

Trung đạo là sự tránh xa hai cực đoan: dục lạc và khổ hạnh

Dục lạc và hưởng thụ như thế không những không đem lại hạnh phúc mà còn gây ra những nguy hiểm cho bản thân và xã hội. Tất nhiên lối sống này là sự sa đoạ, không đạo đức, không luân hồi, nên chỉ hưởng thụ mọi thứ và có thể làm mọi việc trong đời này mà không sợ nghiệp quả ở đời sau vì khi chết là kết thúc.

Sự thực hành không phải là thực hành khổ hạnh, mà phải cần những điều kiện vật chất đủ để nuôi dưỡng thân thể khỏe mạnh để đảm bảo đời sống. Đó là một cách hiệu quả để chúng ta vượt sự cám dỗ của những đam mê và tham dục hay trầm mình trong con đường ép xác đau khổ. 

Vì vậy, hưởng thụ dục lạc là một cực đoan và khổ hạnh cũng là một cực đoan. Cả hai lối sống này đều không mang lại trạng thái bình yên của cơ thể và tâm trí

Trung đạo là từ bỏ hai cực đoan: chấp có và chấp không

Những câu hỏi cực đoan:

– Thế giới này là thường hoặc vô thường, hoặc cả hai, hoặc không.

– Thế giới này hữu biên hoặc vô biên, hoặc cả hai, hoặc không.

– Sinh mạng và thân thể là một hoặc khác.

– Con người có tồn tại sau khi chết, hoặc không tồn tại sau khi chết, hoặc cả hai, hoặc không.

Đây là những vấn đề được các nhà triết học Ấn Độ đương thời quan tâm, những người muốn Đức Phật làm rõ quan điểm của Ngài. Trên thực tế, Đức Phật luôn giữ im lặng bởi vì những câu hỏi này hoàn toàn dựa trên những lý do trừu tượng và huyền bí. Nếu bám vào những câu hỏi đó bằng những lập luận thuần túy sẽ rơi vào cái bẫy của sự hiểu biết, công thức và tính đối ngẫu thông thường, điều này sẽ dẫn đến cuộc tranh luận bất tận xoay quanh những vấn đề siêu thực, dẫn con người ta đến sự ảo tưởng.

Thế giới này hay mỗi hiện hữu vốn dĩ tồn tại với trạng thái vô thường, biến đổi không ngừng, bởi vì chúng đều do duyên hòa hợp, nương tựa lẫn nhau để tạo thành. Nếu mỗi phần (bất cứ pháp nào) trong thế giới là vô thường, thì thế giới to lớn không thể không thay đổi. Nếu thế giới đang thay đổi, thì không có thứ gì nhất định được gọi có hoặc gọi không.

Tất cả các pháp vốn dĩ không có tự tánh, chúng tồn tại phụ thuộc vào duyên sanh. Nếu chúng ta nghĩ rằng một vật nào đó thật có, thì đó là một quan điểm cực đoan. Ngược lại, chúng ta thấy một vật nào không thật có, thì đó cũng là một cực đoan khác. Rời khỏi hai thái cực có và không được gọi là Trung đạo.

Trung Đạo trong Triết học

a) Các hệ tư tưởng triết học

– Nhất nguyên luận: Cho rằng có 1 vị thần linh cai quản, có Thượng đế, có Đấng sáng tạo là tối cao nhất sinh ra mọi thứ, quản lý mọi thứ.

– Nhị nguyên luận: có nghĩa là cái này có cho nên cái kia có. Nếu cái này không có thì cái kia không có. Ví dụ như A sinh ra B, rồi B sinh ra C. Nếu A không có thì B sẽ không có và dĩ nhiên là không có C.

– Tam đoạn luận:  “Tất cả mọi người đều phải chết. Tôi là người. Vậy tôi phải chết”. Đây là một sự lập luận gián đoạn và chỉ có tính cách thời gian, chứ không có tính cách phổ quát.

b) Trong Triết học

– Chủ nghĩa Duy Vật: Vật chất có trước và là cái quyết định Ý thức

– Chủ nghĩa Duy Tâm: Ý thức là cái có trước và là cái quyết định Vật chất

Hai trường phái này luôn gây tranh cãi. Chỉ nhìn về một hướng mà chưa phải nhìn tổng quan, nhiều chiều.

c) Trong Trung Quán luận

Vạn vật đều do Duyên khởi mà thành, Sắc (Vật chất-Vật lý) hay Danh (Tâm – Ý  – Thức) không có cái nào có trước, cũng không có cái nào có sau, không có cái nào quyết định cái nào. Tất cả cùng duyên khởi sinh thành cùng một lúc. Trong cái này nó có cái kia và trong cái kia nó có cái này. Ta đang sống cũng có nghĩa là ta đang đi đến chỗ chết. Và sự sống chỉ là sự tiếp nối của cái này và cái kia trong một thời gian nhất định nào đó, rồi nó thay đổi.

d) Ví dụ

Trong cây bao giờ cũng có hoa và trong đá bao giờ cũng có lửa. Về mùa đông ta không thấy hoa; nhưng khi xuân đến hoa kia lại khoe sắc thắm. Vậy hoa từ đâu mà có? Do biến thể của đất trời vạn vật và thiên nhiên; nhưng hoa chỉ trổ khi có đầy đủ yếu tố thuận lợi. 

Lửa cũng như thế, vốn tự có trong đá. Ta chỉ cần va chạm 2 hòn sỏi, cục đá với nhau thì ta sẽ có lửa. Điều kiện ắt có và đủ ở đây chính là động tác tạo lửa; cũng không phải vì ta làm cho va chạm mà có lửa. Vì lửa đã sẵn có; nhưng vì điều kiện lúc ấy đã chín muồi; nên lửa lại phát sinh

Trung đạo lý duyên khởi và tính “Không”

Để hiểu được ý nghĩa của Tính “Không” trong sự hiện hữu của các pháp, bạn cần phải quán chiếu các tính chất cơ bản của chúng, được tóm tắt trong bốn thuật ngữ như sau: nhân duyên, giả danh, không và trung đạo.

– Nhân duyên: Một pháp (thuộc về tâm lý hay vật lý) được hình thành luôn bao hàm nhiều nhân duyên; hay nói khác đi, do các nhân duyên kết hợp với nhau mà một pháp được hình thành. Do vậy, khi các nhân duyên tan rã, thì pháp ấy cũng hoại diệt theo.

– Giả danh: Một pháp (thuộc về tâm lý hay vật lý) được đặt tên tùy theo các nhân duyên, điều kiện. Khi các nhân duyên thay đổi, tên gọi cũng thay đổi. Ví dụ: cây, gỗ, cái bàn, củi, lửa, tro, bụi.

– Không: Một pháp (thuộc về tâm lý hay vật lý) dầu được định danh theo chức năng của nó, nhưng bản chất của nó khi được phân tích đến cùng đều trở thành Không, tức không có tự tính cá biệt độc lập nào; khi nhân duyên đủ thì sẽ sinh thành và hiện hữu, như hydro cộng với oxy để tạo thành nước.

– Trung đạo: Giá trị của một pháp (thuộc về tâm lý hay vật lý) cần được nhìn nhận trong chuỗi tương quan của các nhân duyên và điều kiện mang tính tương đối, nhằm tránh xa các cố chấp cực đoan về có-không, sinh-diệt, giống-khác, thường kiến hay đoạn kiến… Do vậy, Trung đạo là con đường vượt lên trên mọi chấp thủ và dẫn đến Niết-bàn.

IV. TÁM LOẠI KHÔNG

Bát bất gồm có 8 loại Bất (Không). Đó là: Bất sinh bất diệt, bất đoạn bất thường, bất nhất bất dị và bất khứ bất lai. Đây là 8 loại lập luận để thấy con đường Trung Đạo. Nghĩa là không phải cái này mà cũng chẳng phải cái kia. Thông thường chúng ta chấp có, chấp không, chấp đúng, chấp sai, chấp còn chấp mất, chấp sinh chấp diệt, chấp đến chấp đi v.v… Vì lẽ ta dùng con mắt bình thường của thế gian để xem và phán xét như thế.

Bất Sinh, Bất Diệt

Nghĩa là ta vốn chẳng sinh ra và cũng chẳng mất đi. Cái mà gọi là sinh đó, thật ra nó chỉ là một hiện tượng. Vì ta thấy có một con người, một sự vật hiện hữu ở đời nầy. Rồi sống một thời gian trên cõi thế để rồi một ngày nào đó ta phải ra đi; gọi việc ấy là mất; nhưng mất cái gì và còn cái gì?

Cái được gọi là mất đó thật sự ra nó cũng chỉ là một sự trả lại cho đất trời vạn vật; cho đất, nước, gió, lửa mà thôi. Vì khi ta sinh ra ta đã vay mượn của thiên nhiên vạn vật thì khi ta chết đi ta chỉ trả lại mà thôi. Ta mất chỗ này, ta sẽ hiện hữu ở nơi khác và từ nơi khác sẽ đến chốn này để tồn tại một thời gian; rồi một ngày nào đó sự hiện hữu ấy cũng phải thay đổi vậy.

Bất Đoạn, Bất Thường

Nghĩa là chẳng mất mà cũng chẳng còn.

Cái chẳng mất ấy chính là tâm thức của ta. Tâm ta giống như một dòng điện. Dòng điện ấy luôn luôn tồn tại ở mọi nơi, mọi chỗ và mọi hình thức khác nhau; nhưng khi một bóng đèn cháy rồi, ta không còn thấy ánh sáng nữa, ta gọi là mất; nhưng thực sự ra ánh sáng ấy vẫn còn, nó đang hiện hữu trong dòng điện ấy. Bằng chứng là nếu ta thay một bóng đèn khác thì nó sẽ sáng lên. Ánh sáng ấy nói là thường cũng không đúng, mà nói là mất cũng không đúng. Vì lẽ ánh sáng ấy chỉ thay đổi, xê dịch tùy thời mà thôi. 

Tâm thức ta cũng giống như vậy. Khi ta còn cảm giác thì bảo rằng ta biết. Khi hơi thở hết rồi thì gọi là chết, mà ngay cả hơi thở ấy cũng vay mượn của đất trời, chứ đâu có cái gì là của ta. Nó không có chủ thể thật sự. Khi hít không khí vào để nuôi buồng phổi, rồi thở không khí ra để tạo sự tuần hoàn. Khi không còn hít thở được nữa thì ta bảo rằng đã dứt sự sống. Tâm thức ấy thực sự ra không hoàn toàn là một tâm thức độc lập. Nếu ta là người thì tâm ta là người. Nếu ta là vật thì dòng tâm thức ấy sẽ thay đổi thành sự nhận biết của con vật, chứ không thể là sự nhận biết của con người được. Do vậy nếu nói tâm ấy thường còn là điều không đúng.

Như vậy tâm ấy sẽ đi về đâu? – Đó chỉ là một sự biến tướng của sự nhận thức. Khi làm chúng sanh thì tâm ấy là chúng sanh. Khi thức đã chuyển thành trí trọn vẹn thì tâm ấy là Niết Bàn, Vô Ngã, Chơn Như, Tịch Tịnh.

Cũng là một dòng nước; nhưng khi chảy đến chỗ đất lở thì ta thấy đục và khi chảy đến chỗ cát hoặc sỏi đá ta thấy trong. Sở dĩ ta thấy trong hay đục là do nhận thức chấp trước của mình mà có, chứ thật ra nước không trong mà cũng chẳng đục. Do vậy mà tâm nầy cũng chỉ thế thôi.

Bất Nhất, Bất Dị

Nghĩa là không phải một mà cũng chẳng phải khác.

Đa phần các học thuyết khác đều dựa vào một đấng thần linh để làm chủ tể sinh ra vạn vật và có mọi quyền năng bắt buộc loài người phải tuân theo; nhưng ở giáo lý của Đức Phật không có điều đó. Có nghĩa là không ai sinh ra loài người cả. Ngoại trừ nghiệp lực của con người đã tự tạo trong quá khứ và chính nghiệp nầy đã và sẽ dẫn ta đi lên thiên đường hay xuống địa ngục mà thôi.

Rõ ràng là do Nghiệp và Vô minh tạo tác mà thành, rồi biến đổi: chứ tuyệt đối chẳng có cái gì sinh và bị sinh, ngoại trừ nghiệp lực chi phối. Điều quan trọng ở đây là gốc vốn thiện ở cõi lòng thì kết quả của nghiệp là thiện chứ không thể trái ngược lại. Nếu có, vả chăng đó chỉ là sự vay trả chưa xong của nhiều đời; nên bây giờ phải trả tiếp đó mà thôi.

Không khác mà cũng không nhiều hay không giống. Điều ấy có nghĩa là ngoài cái nầy không có cái kia; hoặc ngược lại. Như ngoài A không có B và ngoài B không có A.

Bất Khứ, Bất Lai

Là chẳng đến mà chẳng đi. Thân và tâm này thật ra cũng chẳng từ nơi nào đến mà cũng chẳng phải đi về đâu. 

Ví như gió thổi, mây bay. Ta ở đây thì có gió, cây bị động. Nên ta thấy có hiện tượng gió; nhưng gió bắt nguồn từ đâu và sẽ đi về đâu thì chẳng ai trả lời được. Tâm nầy cũng thế; nó hiện khi ta thức và nó ẩn khi ta ngủ. Nếu nói lúc ngủ không còn tâm thì tại sao khi ta thức, cái sự hiểu biết ấy nó lại hiện hữu và khi ta chết thì bảo là mất; nhưng cái biết ấy nó sẽ mất đi đâu và nó sẽ đi về đâu?

Vậy thì trước khi ta đến thế giới này, ta là ai? Và sau khi ta chết đi, ta sẽ đi về đâu? Ta không đến mà ta cũng chẳng đi. Sở dĩ mà ta thấy có đến và có đi, vì ta thấy có sự hiện hữu của một con người, với thân tứ đại này; nhưng con người ấy nó sẽ không là gì cả so với cái to lớn của đất trời vạn vật và của không gian cũng như thời gian trong một hay nhiều kiếp sinh.

Trong thân thể của mình có sự vay mượn và sự hiện hữu của mẹ cha. Thế mà khi cha mẹ hay người thân mất ta bảo là không còn gì nữa. Đó là một sự ảo tưởng. Tại sao không còn? Thử hỏi dòng máu này, gương mặt kia từ đâu mà có, nếu không phải từ cha mẹ sinh? Do vậy mà ta bảo rằng mất; nhưng điều ấy chẳng mất; nó chẳng mất mà nó cũng chẳng còn. Vì nó phải bị chi phối bởi thời gian, nên phải chết và thay đổi dáng hình. Như vậy ta bảo rằng đi khuất hay đã mất; nhưng khuất cũng có nghĩa là sẽ hiện lại khi cần và cái mất ấy chỉ có tính cách tương đối, chứ chưa và không tuyệt đối. Vậy thì tâm nầy hay thức nầy nó chẳng từ đâu đến và khi mất đi thì nó cũng chẳng đi về đâu.

Vậy thì cái gì là có, cái gì là không? Cái gì còn và cái gì là mất? Dưới mắt của Phật thì mọi hiện tượng trong thời gian này chỉ là một sự biến tướng giống như người mang cặp kính nhiều màu. Khi đeo màu nầy thì ta thấy đối tượng là màu ấy. Khi ta thay đổi màu khác thì ta bảo rằng đối tượng kia đã đổi màu; nhưng trong thực tế thì đối tượng không thay đổi, chỉ có ta đang thay đổi vị thế của các cặp kính ấy.

V. CON ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO

Bát Chánh Đạo

– Chánh Kiến: Quan điểm hay cái nhìn đúng chân lý, sự thật

– Chánh Tư Duy: Tư duy chân chính đưa đến hành động thiện, an lạc

– Chánh Ngữ: Lời nói chân thật, không gian dối

– Chánh Nghiệp: Hành động đúng đắn, hướng đến đạo đức

– Chánh Mạng: Đời sống, việc làm chân chính

– Chánh Tinh Tấn: Sự cố gắng, nỗ lực, tăng trưởng Thiện

– Chánh Niệm: Quan sát, chú tâm vào Thân, Thọ, Tâm, Pháp để tỉnh thức

– Chánh Định: Thiền Định xa lìa tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến

Các Con đường bổ trợ

– Tứ Niệm Xứ: Chánh niệm (Thân, Thọ, Tâm, Pháp)

– Tứ Chánh Cần: Ngăn ác; Diệt ác; Sinh thiện; Tăng thiện

– Tứ Như Ý Túc: Dục; Tấn; Tâm; Tuệ.

– Tứ Vô Lượng Tâm: Thiền (Từ, Bi, Hỷ, Xả)

– Ngũ Căn: Tín căn; Tấn căn; Niệm căn; Định căn; Tuệ căn

– Ngũ Lực: Tín lực; Tấn lực; Niệm lực; Định lực; Tuệ lực

– Thất Giác Chi: Niệm; Trạch Pháp; Tấn; Phỉ; Khinh An; Định; Xả

– Trì Giới: Giữ đúng 5 Giới.

– Niệm-Quán-Thiền: Luôn Chánh niệm, Quán chiếu và thực hành Thiền Định (Thiền Minh Sát)

Tổng hợp Nhiếp Danh Phái

 

 

Bài liên quan

Nhận thức, hiểu biết Sai Sự thật

Khung phân loại NDP – Phân loại Tri thức theo lĩnh vực

Con đường Tỉnh giác phát sinh Tuệ