Khoa học xã hội sự nhìn nhận trong thế kỷ 21

Khoa học xã hội thế kỷ 21

Xem bài trước: Kinh nghiệm tối ưu hóa tăng tốc cho wordpress từ A đến Z

Khoa học xã hội ở đây được dùng theo nghĩa truyền thống để đối lập với hai nhóm ngành lớn khác là “khoa học tự nhiên” (theo nghĩa rộng, gồm toán, lý, hóa, sinh…) và “công nghệ – kỹ thuật”. Đó là “Khoa học xã hội theo nghĩa rộng”, nó bao gồm “khoa học xã hội theo nghĩa hẹp”, “khoa học nhân văn” và “khoa học quản lý – kinh tế – luật”.

Hiện nay, trong thế giới đương đại mà đặc trưng nổi bật là quá trình hội nhập, khoa học xã hội trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề. Các vấn đề này có thể chia làm hai nhóm: những vấn đề thế giới đương đại đặt ra cho khoa học xã hội và những vấn đề khoa học xã hội tự đặt ra cho mình trong bối cảnh thời hội nhập. So với thế giới, ngoài những vấn đề chung, khoa học xã hội Việt Nam và những nước cùng loại còn có những vấn đề riêng của mình.

Những vấn đề chung của khoa học xã hội

Thế giới mà chúng ta đang sống là thế giới của nền văn minh trí tuệ xét theo đặc tính văn minh, là thế giới của nền kinh tế tri thức xét theo đặc tính kinh tế, và là thế giới toàn cầu hoá và hội nhập xét theo đặc tính quan hệ xã hội.

Thay thế cho văn minh công nghiệp, nền văn minh trí tuệ ra đời vào những thập niên cuối thế kỷ 20 với động lực là bốn cuộc cách mạng siêu công nghiệp:

  1. Công nghệ sinh học(Biotechnology)
  2. Công nghệ tự động hoá (Automatic technology)
  3. Công nghệ thông tin (Information technology)
  4. Công nghệ nano (Nanotechnology)

(Dùng bốn thuật ngữ khác là Genomics – Robotics – Informatics – Nanotech, người ta viết tắt bốn cuộc cách mạng này thành GRIN và gọi chúng là “GRIN’ technologies”).

Bản chất của bốn cuộc cách mạng này là sự kết hợp tài tình giữa khoa học tự nhiên và công nghệ. Từ sản phẩm văn minh, chúng nhanh chóng được áp dụng vào đời sống, tạo nên một hình thái kinh tế hoàn toàn mới là kinh tế tri thức đang làm biến đổi sâu sắc mọi mặt của xã hội loài người.

Nền kinh tế tri thức tạo nên hai điểm mạnh nhất của thế giới đương đại là sự phát triển với tốc độ cực nhanh và quá trình toàn cầu hoá buộc con người phải liên kết và tương tác với nhau hết sức chặt chẽ. Đồng thời cũng làm bộc lộ ba hạn chế:

Một là sự phát triển nhanh và nóng của kinh tế trong khi đem lại sự giàu có (cho một bộ phận nhân loại) thì đã gây nên nạn cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu; kéo theo những cuộc khủng hoảng về năng lượng, kinh tế, tài chính, lương thực ngày càng gay gắt… cho mọi người. Tất cả đều là dấu hiệu của một sự phát triển không bền vững.

Hai là sự phát triển này không chỉ nhanh và nóng mà còn mất cân đối và không đồng đều. Về chủ thể, là sự phân hoá giàu nghèo. Trong thời gian, là sự thiếu trách nhiệm với tương lai. Trong không gian, là sự phân hoá giữa các nhóm nước phát triển, đang phát triển và chậm phát triển. Sự mất cân đối này kéo theo nhu cầu di cư, nhập cư trên diện rộng, dẫn đến nhiều bất ổn xã hội. Tất cả đều là dấu hiệu của một cuộc hội nhập không bình yên với hàng loạt những bất ổn chính trị, xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải đang gia tăng ở mọi khu vực trên trái đất.

Từ đây bộc lộ hạn chế thứ ba là sự mất cân đối nghiêm trọng trong phát triển khoa học: khoa học xã hội phát triển chậm hơn khoa học tự nhiêncông nghệ, chưa đáp ứng kịp những yêu cầu của cuộc sống.

Những vấn đề chung của khoa học xã hội

Hai vấn đề chủ yếu của khoa học xã hội

1. Khoa học xã hội phải trả lời được những yêu cầu mà cuộc sống đặt ra

Những yêu cầu này mỗi ngày một thêm phức tạp do có sự tham gia của các thành tựu khoa học tự nhiêncông nghệ (ví dụ: hóa chất và công nghiệp với vấn đề ô nhiễm môi trường, biến đổi gien và sinh sản vô tính với vấn đề đạo đức xã hội…).

Yêu cầu cao nhất là thế giới con người phải đạt tới một xã hội phát triển bền vững trên cơ sở sự cân đối, hài hòa giữa vật chất với tinh thần, hiện tại với tương lai và giữa các vùng miền với nhau.

Nếu động lực của phát triển nằm ở sự kết hợp của các khoa học tự nhiên và công nghệ tạo nên bốn cuộc cách mạng, thì cơ sở cho tính bền vững (cân đối, hài hòa, ổn định) nằm ở sự tham gia tích cực của khoa học xã hội, ở sự kết hợp chặt chẽ giữa khoa học xã hội với khoa học tự nhiêncông nghệ.

2. Khoa học xã hội cần phải đi trước thời đại

Đi xa hơn, khoa học xã hội không chỉ phải đáp ứng các yêu cầu do xã hội đề ra, mà còn có sứ mạng phải đi trước thời đại, dự báo chính xác về những vấn đề của xã hội và loài người, dẫn đường cho việc ứng dụng hiệu quả các thành tựu của khoa học tự nhiên và công nghệ.

Nguyên nhân sự bất cập của khoa học xã hội

Từ phía khách quan lịch sử

Nếu như khoa học hiện đại về cơ bản là sản phẩm đóng góp của thế giới phương Tây thì sự mất cân đối trong phát triển khoa học chủ yếu cũng là hệ quả của truyền thống văn hoá và khoa học phương Tây. Đó là truyền thống quan tâm đến đồ vật nhiều hơn con người, coi trọng khoa học tự nhiên nhiều hơn khoa học xã hội.

Trong 60 nhân vật được kể ra trong niên biểu lịch sử khoa học Science History Timeline 2001 thì chỉ có 5 người thuộc lĩnh vực khoa học xã hội. Trong 11 loại giải thưởng lớn về khoa học kê ra trong Наука 2011 thì ngoài 2 giải chung, tất cả 9 giải thưởng riêng không có một giải thưởng nào cho khối khoa học xã hội.

Trong 5 loại giải thưởng do Alfred Nobel lập ra vào năm 1895 có 3 giải về thành tựu khoa học, thì cả 3 đều là dành cho khoa học tự nhiên (vật lý, hóa học, y học). Mãi đến năm 1969 mới có thêm giải Nobel về Kinh tế mà thực chất cũng chỉ là giải thưởng để tưởng niệm Alfred Nobel của Ngân hàng Thụy Điển mà thôi Nobel Prizes 2011.

Trong một thời gian dài, nói đến “khoa học” là người ta lập tức đồng nhất nó với khoa học tự nhiên: Ở nhiều nước phương Tây và ở Sài Gòn trước năm 1975, “Trường Đại học Khoa học Tự nhiên” chỉ gọi đơn giản là “Trường Đại học Khoa học”. 

Đến đầu thế kỷ 20, trong các trường đại học phương Tây, khoa học xã hội vẫn còn chiếm một vị trí cực kỳ khiêm tốn. Chỉ đến nửa sau thế kỷ 20, chúng mới được thừa nhận và khẳng định rộng rãi.

Từ phía khách quan hiện tại

Lối sống thực dụng coi trọng vật chất, chạy theo đồng tiền đang lên ngôi, nhờ thế một số ngành đào tạo dễ kiếm ra tiền trở nên rất đắt khách (trong đó có cả một số ngành khoa học xã hội như kinh tế, ngoại thương, ngoại ngữ…) nhưng khoa học xã hội, kể cả ở những ngành đào tạo ăn khách thì tuột dốc một cách thê thảm.

Tình trạng này diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Mỹ, từ năm 1958 Rollo Handy đã dành hẳn một bài bàn về “Sự coi thường mang tính triết học đối với các khoa học xã hội”. Ở Nga, viện sĩ địa vật lý S.Goldin nhận định “Việc coi thường khoa học xã hội rất phổ biến ở Nga trong thời gian gần đây đã tạo nên sự dã man về tinh thần và là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự gia tăng nạn khủng bố và tội phạm”.

Từ phía chủ quan

Đối tượng của khoa học xã hội có bản chất khác hẳn khoa học tự nhiênvà công nghệ, khiến cho công việc của các nhà khoa học xã hội gặp khó khăn hơn rất nhiều lần so với các nhà khoa học tự nhiên và công nghệ.

Những đặc điểm cơ bản của khoa học xã hội

5 đặc điểm cơ bản của khoa học xã hội

1. Tính chi tiết của đối tượng

Đối tượng của các khoa học tự nhiên và công nghệ (cái cây, con vật, trái đất, hành tinh, mưa, bão, máy móc…) thường là một chỉnh thể mà người nghiên cứu luôn có thể bao quát được, do vậy có thể tiếp cận được nó một cách toàn vẹn.

Còn đối tượng của khoa học xã hội (như xã hội, lịch sử, ngôn ngữ, tâm lý, văn hoá…) thì người nghiên cứu không bao giờ có thể bao quát và tiếp cận được một cách tổng thể: anh ta chỉ có thể thấy được những biểu hiện cụ thể, những chi tiết rời rạc của nó mà thôi. Bởi vậy, tình trạng “thấy cây mà không thấy rừng” là một căn bệnh rất phổ biến trong các nghiên cứu khoa học xã hội.

2. Tính phiếm định của đối tượng

Đối tượng của các khoa học tự nhiên và công nghệ do là chỉnh thể toàn vẹn nên cũng có ranh giới có thể xác định minh bạch, rõ ràng. Các nhà khoa học xã hội nghiên cứu xã hội và con người (“con người” ở đây không phải là con người sinh học, mà là khía cạnh tinh thần cùng những quan hệ, hoạt động, ứng xử… của nó) như một tập hợp những chi tiết rời rạc, không có hình hài cụ thể, ranh giới rõ ràng.

3. Tính lệ thuộc của đối tượng và tính liên ngành của nghiên cứu khoa học xã hội

Nghiên cứu khoa học đòi hỏi tư duy phân tích. Đối tượng của khoa học tự nhiên và công nghệ có độ độc lập cao nên việc nghiên cứu chúng có thể khoanh vùng thu hẹp phạm vi đối tượng, tạo nên tính phân ngành cao.

Còn đối tượng của khoa học xã hội do có tính chi tiết và phiếm định nên nó lệ thuộc chặt chẽ vào các đối tượng có liên quan. Việc nghiên cứu một khía cạnh, quan hệ, hoạt động, ứng xử này luôn phải đặt trong mối liên hệ mật thiết với các khía cạnh, quan hệ, hoạt động, ứng xử khác của con người. 

Nghiên cứu khoa học xã hội do vậy mang tính liên ngành từ trong bản chất. Hai tác giả của bộ sách khoa học xã hội trên thế giới là A. Kazancigil và D. Makinson nhận xét rằng số các biến lượng nằm trong phạm vi quan sát của khoa học xã hội quá nhiều, với những tổ hợp quá phức tạp, mà khoa học tự nhiên không thể nào so sánh được.

Không phải ngẫu nhiên mà truyền thống phương Đông từ xưa đã là “văn sử triết bất phân”, còn phương Tây thì mãi đến tận cuối thế kỷ 19 và suốt thế kỷ 20 mới có hàng loạt ngành khoa học xã hội như ngôn ngữ học, tâm lý học, xã hội học, văn hoá học… được tách ra thành những khoa học độc lập.

4. Tính đặc thù của nội dung sản phẩm nghiên cứu

Trong khi những kết quả nghiên cứu của khoa học tự nhiên và công nghệ mang tính phổ quát (universal), chung cho toàn nhân loại thì kết quả nghiên cứu của khoa học xã hội mang tính đặc thù, riêng cho từng dân tộc. Ông P.Wagner đã nhận xét đúng khi cho rằng “Các mô hình quốc gia về khoa học xã hội là sự phản ánh các nền văn hoá dân tộc”.

Tuy rằng trong khoa học xã hội ngành nào cũng có phần lý luận đại cương nhưng thường thì những lý luận đại cương được rút ra từ thực tiễn phương Tây không thể áp dụng nguyên xi vào phương Đông; những lý luận được rút ra từ thực tiễn nước này hầu như không thể áp dụng nguyên xi vào nước khác.

Việc áp dụng chúng một cách máy móc thường dẫn đến những sai lầm tệ hại. Trong ngôn ngữ học một thời từng có quan điểm cho rằng động từ tiếng Việt cũng có phạm trù “thời”, “thể” như các ngôn ngữ phương Tây. Kinh nghiệm cách mạng ở Trung Quốc áp dụng vào cải cách ruộng đất ở Việt Nam gây nên bao khổ đau, áp dụng vào Campuchia gây nên hoạ diệt chủng…

5. Tính phổ biến về phạm vi sử dụng sản phẩm nghiên cứu

Tri thức về khoa học tự nhiên và công nghệ mang tính chuyên sâu. Bổ đề của Ngô Bảo Châu chắc chắn rằng không phải ai cũng hiểu. Trong khi đó thì xưa nay, làm việc gì cũng đều cần đến những hiểu biết về con người, cho nên kiến thức khoa học xã hội hiện hữu ở khắp mọi nơi: xét về phạm vi sử dụng sản phẩm nghiên cứu thì khoa học xã hội có tính phổ biến.

Khoa học tự nhiên và công nghệ phổ quát trên phạm vi thế giới nhưng kém phổ biến trong phạm vi dân tộc, quốc gia. Khoa học xã hội thì ngược lại, phổ biến trong phạm vi dân tộc, quốc gia, nhưng lại mang tính đặc thù, kém phổ quát trên phạm vi thế giới.

Những vấn đề khoa học xã hội tự đặt ra cho mình trong thế kỷ 21

Những vấn đề mà khoa học xã hội tự đặt ra cho mình trong bối cảnh thế kỷ 21 có thể chia làm ba nhóm:

  • Những vấn đề của khoa học xã hội trong quan hệ với bản thân mình
  • Những vấn đề của khoa học xã hội trong quan hệ với khoa học tự nhiên và công nghệ
  • Những vấn đề của khoa học xã hội trong quan hệ với nhà quản lý và xã hội.

Những vấn đề khoa học xã hội thế kỷ 21

1. Những vấn đề của khoa học xã hội trong quan hệ với bản thân mình

Trong quan hệ với bản thân mình, khoa học xã hội có lẽ là có khá nhiều vấn đề cần giải quyết, nhưng bao trùm nhất có lẽ là vấn đề phân loại khoa học. Phân loại khoa học là vấn đề cổ xưa như chính bản thân nó, nhưng ở khối ngành khoa học xã hội thì việc phân loại này rất rối rắm, mù mờ. 

Jean Piaget trong “La situation des sciences de l’homme dans le système des sciences” (1970) viết: “Cách phân chia các bộ môn tại các trường đại học hết sức khác nhau giữa nước này với nước khác, và không đủ cho ta một nguyên tắc phân loại”. Tình trạng đó đã dẫn đến hiện tượng sử dụng không phân biệt các thuật ngữ “khoa học xã hội” và “khoa học nhân văn”; còn các tạp chí khoa học thì ngày càng không để ý đến ranh giới giữa các ngành khoa học.

Nguyên nhân chính nằm ở tính phiếm định cùng tính lệ thuộc của đối tượng và tính liên ngành của khoa học. Kết quả là có sự khác biệt rất lớn giữa các khu vực, các quốc giavề số nhóm phân loại, tên gọi các nhóm, tiêu chí phân loại các nhóm, và kết quả sắp xếp một ngành khoa học xã hội cụ thể vào một trong các nhóm đó. Tuy đây không phải là vấn đề cấp bách, nhưng nếu không giải quyết tốt, nó có thể gây nhiều hiểu lầm và khó khăn cho việc hợp tác khoa học và hội nhập.

Về số lượng các nhóm thì phổ biến là cách chia tất cả các khoa học xã hộivào 2 nhóm, nhưng cá biệt cũng có quan niệm (như trong Danh mục giáo dục, đào tạo trình độ cao đẳng, đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo Thông tư số 14/2010/TT-BGDĐT ngày 27/4/2010) chia ra tới 9 nhóm ngành liên quan đến khoa học xã hội như Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên; Nghệ thuật; Báo chí và thông tin; Kinh doanh và quản lý; Pháp luật; Dịch vụ xã hội; Khách sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân.

Về tiêu chí phân loại, điều thú vị là tuy tên gọi thì là “xã hội” / “nhân văn”, song tiêu chí mà giới khoa học xã hội phương Tây hay dùng để phân loại lại không phải là “xã hội” hay “nhân văn”. 

Tiêu chí mà các nhà khoa học xã hội phương Tây hay dùng nhất là tiêu chí về phương pháp: khoa học xã hội thì hay dùng phương pháp “thực nghiệm” còn khoa học nhân văn thì hay dùng phương pháp “định tính”.

Có thể có nhiều cách phân loại, nhưng đã phân loại thì phải có sự nhất quán. Nếu lấy tiêu chí phương pháp làm căn cứ thì nên phân loại thành khoa học thực nghiệm hay phi thực nghiệm. Còn nếu đã phân loại thành khoa học xã hội hay nhân văn thì nên dựa vào tiêu chí đối tượng khảo sát: khoa học xã hội có đối tượng là xã hội, còn khoa học nhân văn thì có đối tượng là con người.

Khi xếp loại các ngành khoa học cụ thể vào một trong hai nhóm thì có thể thấy các ngành kinh tế học, chính trị học, xã hội học, dân số học, luật học… là những ngành khoa học xã hội điển hình; còn triết học, văn học, ngôn ngữ học, văn hoá học, nghệ thuật học… là những ngành khoa học nhân văn điển hình. Những ngành như tâm lý học, nhân loại học, sử học, khu vực học… là những ngành giáp ranh, không đạt được sự thống nhất trong các bảng phân loại.

Phần trình bày ngắn gọn ở trên chưa khảo sát được hết các bảng phân loại, nhưng cũng có thể thấy rằng nhìn chung thì về số lượng thành phần và tên gọi cụ thể tuy có những khác biệt, nhưng cách phân chia phổ biến nhất là chia thành hai nhóm với tên gọi phổ biến nhất là “Khoa học xã hội” (theo nghĩa hẹp) và “Khoa học nhân văn”.

Đó là một cách phân chia hợp lý và nên chấp nhận. Cách chia của Bộ Giáo dục và đào tạo Việt Nam rõ ràng là dựa theo danh mục ngành đào tạo của phương Tây và đã phản ánh chính xác sự lộn xộn trong phân loại khoa học xã hội và nhân văn của thế giới phương Tây. Cách làm đó thể hiện một quan niệm dứt khoát về hội nhập, nhưng nên tính xem cách phân loại như vậy có hợp lý và tiện dụng hay không?

Căn cứ vào cách phân chia các ngành cụ thể của các nước thì thấy rằng các khoa học như kinh tế học, luật học đều thuộc khối khoa học xã hội. Việc tách hai ngành này là vấn đề quản lý hành chính chứ không thuộc phạm vi khoa học.

Việc phân loại các ngành như như tâm lý học, nhân loại học, sử học, khu vực học thì có thể dựa vào số đông (tâm lý học, nhân loại học phần đông xem là khoa học xã hội; khu vực học phần đông xem là khoa họcnhân văn).

Bên cạnh đó cũng nên quan tâm đến tính xu hướng nữa (sử học phần đông xem là khoa học nhân văn nhưng từ những năm 1960 xu hướng của Pháp là chuyển sang xếp vào khoa học xã hội), cho nên cần phân tích thêm cơ sở của sự chuyển hướng này.

2. Những vấn đề của khoa học xã hội trong quan hệ với khoa học tự nhiên và công nghệ

Khoa học xã hội phát triển chậm hơn khoa học tự nhiên và công nghệ. Do vậy, vấn đề đầu tiên đặt ra là khoa học xã hội phải phát triển tương xứng với khoa học tự nhiên và công nghệ cả về mặt định lượng (quy mô, tốc độ…) lẫn định tính (độ chính xác, sức thuyết phục…).

Tuy nhiên, do truyền thống văn hoá và khoa học phương Tây là coi trọng thực nghiệm, coi trọng con số, nên các yêu cầu định tính thường cũng được quy về định lượng. Mấy chục năm gần đây khoa học xã hội phương Tây phấn đấu để có được độ chính xác cao hơn, sức thuyết phục lớn hơn, tính khoa học cao hơn (định tính) chủ yếu theo hai biện pháp: áp dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng và áp dụng phương pháp đo lường để đánh giá chất lượng sản phẩm nghiên cứu khoa học.

Do phương Tây có truyền thống văn hoá và khoa học coi trọng những gì có thể sờ mó được cho nên, theo kinh nghiệm của các nhà khoa học tự nhiên và công nghệ, các phương pháp mang tính “thực nghiệm” như điều tra điền dã, quan sát tham dự, v.v. để thu thập dữ liệu và các phương pháp định lượng như phân tích thống kê đãphát triển rất mạnh và thâm nhập vào nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn như kinh tế học, xã hội học, nhân loại học, ngôn ngữ học, nghiên cứu y tế, dân số, địa lý, chính trị…

Có thể nói rằng thực nghiệm điền dã và định lượng thống kê là những phương pháp vô cùng quan trọng và cần thiết để khoa học xã hội nâng cao độ chính xác, sức thuyết phục và tính khoa học của công trình nghiên cứu, rút ngắn khoảng cách với các khoa học tự nhiên và công nghệ.

Ngay cả trong khoa học tự nhiên và công nghệ, sức thuyết phục và tính khoa học vẫn luôn có thể đạt được bằng hai cách: thực nghiệm và lý luận. Những khoa học tự nhiên truyền thống như toán học, vật lý lý thuyết và khoa học xã hội truyền thống như triết học, lôgic học xưa nay thường không dùng các phương pháp thực nghiệm điền dã và định lượng thống kê mà vẫn có được những sản phẩm khoa học xuất sắc.

Hơn nữa, cần lưu ý rằng trong những nền văn hoá âm tính có truyền thống coi mọi thứ đều tương đối như Việt Nam (nơi mà mọi cơ quan, công ty luôn có 2-3 hệ thống sổ sách kế toán; mọi con số đều có thể điều chỉnh theo ý muốn; mọi người “không ai sống bằng tiền lương”) thì việc tuyệt đối hóa vai trò của phương pháp định lượng sẽ có nguy cơ đẻ ra những sản phẩm “ngụy khoa học”.

Biện pháp thứ hai mà phương Tây áp dụng để nâng cao tính khoa học của công trình nghiên cứu khoa học xã hội là dùng phương pháp đo lường để đánh giá chất lượng sản phẩm nghiên cứu khoa học theo những chuẩn mực mà các nhà khoa học tự nhiên và công nghệ đã xây dựng.

Việc đo lường này có thể thực hiện theo 3 tiêu chí cơ bản:

  1. Số lượng công trình công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín;
  2. Hệ số ảnh hưởng (Impact Factor, IF) của tạp chí;
  3. Chỉ số trích dẫn (Citation Index) của công trình.

Tạp chí khoa học quốc tế là tạp chí có nhiều quốc gia tham gia đăng bài và sử dụng. Tạp chí khoa học quốc tế có uy tín là tạp chí lớn, có nhiều nhà chuyên môn đọc, và quan trọng hơn hết là tạp chí này phải có một hệ thống bình duyệt nghiêm túc.

Tạp chí có uy tín, nhưng uy tín đó sẽ biến động. Hệ số ảnh hưởng là thông số cho biết uy tín và giá trị của một tạp chí trong năm. Hệ số ảnh hưởng của một tạp chí trong năm là số lần tham khảo hay trích dẫn trung bình của tất cả các bài báo được công bố trên tạp chí đó trong vòng 2 năm trước. Nó có thể làm cơ sở cho việc xếp hạng tạp chí, và do vậy đánh giá giá trị bài báo đăng trong đó. Chỉ số trích dẫn của bài báo cho phép đánh giá rõ hơn chất lượng của công trình.

Hệ thống đánh giá này rất phù hợp cho khoa học tự nhiên và công nghệ là những ngành mà sản phẩm mang tính phổ quát và có dung lượng không lớn nên thường chỉ công bố dưới dạng bài báo. Với khoa học xã hội mang tính đặc thù thì rất khó có được những tạp chí quốc tế tầm cỡ như vậy. 

Thành tựu nghiên cứu của khoa học xã hội mang tính đặc thù ở những quốc gia có nền văn hoá khác nhau thì nhìn chung chỉ có thể tham khảo. Công trình khoa học xã hội mang tính đặc thù và dung lượng có thể lớn, nên bên cạnh bài báo thì sách chuyên luận là rất quan trọng. 

Nếu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên thì giáo trình đại học chỉ cần dịch hoặc biên soạn lại là xong thì trong lĩnh vực khoa học xã hội một giáo trình lại là một công trình khoa học, và có thể còn là công trình khoa học lớn. Không ít nhà khoa học xã hội trở nên nổi tiếng nhờ các giáo trình đại học của mình.

Công trìnhduy nhất làm nên danh tiếng của nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ tài ba F.de Saussure là giáo trình “Ngôn ngữ học đại cương”. Học giả Việt Nam Đào Duy Anh trở nên nổi tiếng rộng rãi là nhờ giáo trình “Việt Nam văn hoá sử cương”. Vì vậy, Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước đã rất có lý khi đòi hỏi các ứng viên chức danh giáo sư trong lĩnh vực khoa học xã hội bắt buộc phải có giáo trình và chuyên luận.

Thêm vào đó, cần lưu ý rằng ngay cả trong các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ, việc quá coi trọng hệ thống đánh giá hình thức, định lượng cũng có thể bị lợi dụng để tạo ra những gian trá trong khoa học (như việc tự trích dẫn, trích dẫn lẫn nhau…).

3. Những vấn đề của khoa học xã hội trong quan hệ với nhà quản lý và xã hội

Do có tính phổ biến nên khoa học xã hội xưa nay rất hay bị coi thường, xem nhẹ, xem nhẹ tới mức bất công. Đây là biểu hiện của một nghịch lý: cái phổ biến thì quan trọng, nhưng phổ biến quá thì lại bị coi thường. Cũng như việc con người không thể sống thiếu không khí dù chỉ là vài phút, song cũng vì thế mà người ta nhớ đến việc ăn ngủ hơn là việc thở. Sự coi thường khoa học xã hội dẫn đến nhiều hệ lụy.

Thứ nhất là tình trạng bình dân hóa, tầm thường hóa khoa học xã hội

Do có tính phổ biến nên khoa học xã hội không được xem là lĩnh vực của giới chuyên môn mà là thứ ai cũng đọc được (khác với khoa học tự nhiên và công nghệ nhìn thấy công thức là đã không thể đọc tiếp được rồi!). 

Việc “đọc được” này đã đánh lừa nhận thức, khiến người ta nghĩ rằng đọc được thì có nghĩa là hiểu được, và do vậy cũng có thể bàn được. Ở Trung Quốc, ngay cả sau “Đại Cách mạng Văn hoá”, người ta vẫn còn kêu gọi “toàn dân tiến quân vào khoa học”, xem nghiên cứu khoa học như một phong trào quần chúng, hậu quả là tạo ra vô số những “nhà khoa học hoang tưởng”. Ở Việt Nam cũng có tình trạng “hoang tưởng” như vậy trong lĩnh vực khoa học xã hội.

Thứ hai là tình trạng áp đặt các chuẩn mực của khoa học tự nhiên cho khoa học xã hội.

Việc này mang tính hai mặt. Một mặt nó giúp khoa học xã hội phải vươn lên để có được sự rõ ràng, tính thuyết phục như khoa học tự nhiên. Nhưng mặt khác, nó bỏ qua mà không tính đến các đặc thù của khoa học xã hội nên nhiều chính sách, văn bản, quy trình đối với hai nhóm khoa học lớn không có sự khác biệt nào. 

Mà các chính sách, văn bản, quy trình này thường vốn được xây dựng xuất phát từ đặc điểm của khoa học tự nhiên nên hậu quả là khoa học xã hội lại càng không phát triển được. Một ví dụ: khoa học tự nhiên mang tính độc lập và phân ngành cao nên đã theo học ngành này rồi thì không thể chuyển sang ngành khác.

Nhưng khi chế độ đơn tuyến, chuyên ngành của khoa học tự nhiên này áp dụng cho khối khoa học xã hội (tuyển sinh sau đại học đòi hỏi phải có bằng cấp bậc đại học, cao học đúng ngành; phong Giáo sư, Phó Giáo sư đòi hỏi phải có bằng Phó Giáo sư, Tiến sĩ hoặc đúng ngành) thì đã khiến cho khoa học xã hội trở nên bất lực, trì trệ, không thể đào tạo và cấp học vị liên ngành được. Tình trạng này xảy ra ở cả Việt Nam và một số nước khác trên thế giới.

Thứ ba là tình trạng chính trị hóa khoa học xã hội

Do có tính phổ biến, tính phiếm định nên ở một số quốc gia, có lúc một số ngành khoa học xã hội đã bị nhà quản lý chi phối về nội dung và kết quả nghiên cứu, khiến chúng rơi vào tình trạng của khoa học minh hoạ. 

Trong thời kỳ Xô-viết, ngay cả những kết quả điều tra dân số toàn quốc cũng có thể bị huỷ bỏ bởi những lý do chính trị. Nguyên cả một ngành khoa học như xã hội học cũng từng bị coi là khoa học “tư sản” và không có đất dung thân.

Một khi sản phẩm nghiên cứu được viết ra với những kết quả định trước theo đơn đặt hàng thì mọi tiêu chuẩn nghiêm ngặt của khoa học bị hủy bỏ, chân lý và tính khách quan không được tôn trọng, khoa học không còn là khoa học nữa. Kết quả là vàng thau lẫn lộn, khiến chính nhà quản lý và xã hội cũng không đánh giá đúng và đánh giá hết được giá trị của các nghiên cứu khoa học xã hội.

Những sự kiện lớn có quy mô quốc tế lâu nay như sự thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa năm 1991, vụ khủng bố ở Mỹ ngày 11-9-2011, …, hay sự cố nhỏ trong phạm vi một quốc gia như sự cố Thái Bình ở Việt Nam năm 1997, Tây Nguyên năm 2001 đều có một phần nguyên nhân là do nhà quản lý chủ quan, coi thường khoa học xã hội, nhắm mắt bịt tai trước những nghiên cứu, nhận định của khoa học xã hội về thực trạng vấn đề. 

Khá phổ biến ở một số quốc gia là tình trạng nhà quản lý muốn che dấu sự thật để làm theo ý mình bằng cách coi đó là “bí mật quốc gia” để cấm bàn, là vùng “nhạy cảm” để hạn chế các nhà khoa học có nói thì chỉ được nói thì thầm thôi. Đến lúc “cái gì đến sẽ phải đến” thì đã là quá muộn.

Khoa học xã hội nhìn nhận ở Việt Nam

Những vấn đề riêng của khoa học xã hội ở Việt Nam và các quốc gia tương tự

1. Khoa học nói chung và khoa học xã hội nói riêng thì chậm phát triển

2. Kinh tế thì đang bắt đầu đi lên

3. Quản lý thì chưa hoàn toàn thoát ra khỏi những hạn chế của nề nếp quản lý trước đó (hành chính quan liêu, chủ quan duy ý chí, v.v.).

Nếu chỉ có khoa học xã hội chậm phát triển mà quốc gia đang ngủ quên thì không có vấn đề gì. Chỉ khi khoa học xã hội chậm phát triển mà kinh tế bắt đầu đi lên thì mới nảy sinh mâu thuẫn. Cộng thêm vào đó, nề nếp quản lý quan liêu duy ý chí trước đó mới thay đổi được (phần nào) trong lĩnh vực kinh tế, còn trong khoa học và giáo dục thì vẫn lạc hậu, bất cập thì sẽ thực sự gây nên tai họa.

Đó chính là nguồn gốc sâu sa của tình trạng rối loạn trong giáo dục lâu nay ở Việt Nam cũng như tình trạng khoa học xã hội Việt Nam còn có khoảng cách quá xa so với thế giới.

Ngoài ra, do đối tượng nghiên cứu có tính phiếm định, vô hình, còn kết quả nghiên cứu thì nhiều khi mơ hồ, thiếu rõ ràng nên dẫn đến hệ quả là hiện tượng bất đồng ý kiến trong khoa học xã hội cao hơn rất nhiều so với khoa học tự nhiên.

Và cũng bởi vậy mà có hệ quả tiếp theo là các nhà khoa học xã hội khó cộng tác với nhau hơn nhiều so với các nhà khoa học tự nhiên. Việt Nam nằm trong khu vực lúa nuớc Đông Nam Á có truyền thống văn hoá trọng tĩnh, âm tính điển hình nhất, do vậy hiện tượng bất đồng ý kiến và khó cộng tác với nhau trong khoa học xã hội cũng ở mức cao nhất.

Kết luận

“Thế kỷ 21 được coi là thời kỳ khoa học xã hội đã thực sự chín muồi về trí tuệ và có được sự thừa nhận rộng rãi về chính trị và thể chế”. Nhận định này không hoàn toàn sai, nhưng thực tế thì khoa học xã hội thế giới nói chung cũng còn rất nhiều việc phải làm để có thể được coi là “thực sự chín muồi”.

Còn đối với Việt Nam thì, để có thể đóng góp hiệu quả hơn cho quốc gia và phát triển ngang tầm thế giới, khoa học xã hội phải hiện đại hóa, hội nhập và có bản lĩnh để tự khẳng định. Nhà quản lý cần hiểu rõ và tôn trọng những đặc thù của khoa học xã hội, xây dựng văn hoá quản lý thích hợp hơn cho lĩnh vực hoạt động nghiên cứu và đào khoa học xã hội ở Việt Nam.

Tài liệu trích dẫn

1.Nobel Prizes 2011: Facts and Lists

2.Rollo Handy 1958: Philosophy’s Neglect of the Social Sciences. – In: Philosophy of Science, Vol. 25, No. 2 (Apr., 1958), pp. 117-124.

3.Science History Timeline 2001

4.UNESCO 1999/2007: Khoa học xã hội trên thế giới (Chu Tiến Ánh và Vương Toàn dịch, Phạm Khiêm Ích biên tập và giới thiệu). – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 890 tr.

5.Наука 2011

6.Шпак Г. 2006: Музы геофизика Гольдина. – «Наука в Сибири», N 4 (2540) 27 январяг.

Bài tiếp theo: Thiết bị bay phản lực cá nhân viễn tưởng thành hiện thực

Bài liên quan

Nhận thức, hiểu biết Sai Sự thật

Khung phân loại NDP – Phân loại Tri thức theo lĩnh vực

CON ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO – Vượt trên cả Nhất Nguyên và Nhị Nguyên